|
Nhật Kư
Trên Biên
Giới Việt-Trung
1885-1887
Tác giả
Dr. P. Neis (1888)
Sơ lược tác phẩm
Nhật Kư Trên Biên Giới
Việt-Trung 1885-1887 (NKTBGVT) in nǎm
2002 là ấn bản Việt ngữ lần đầu tiên do
Sông Hồng
www.viettrade.net dịch từ tác phẩm
Anh ngữ The Sino-Vietnamese Border
Demarcation 1885-1887 người dịch Dr.
Walter E. J. Tips thuộc nhà xuất bản Sen
Trắng in nǎm 1998 tại Thái Lan. Bản dịch
Anh ngữ từ nguyên tác Pháp ngữ Sur
Les Frontières du Tonkin 1885-1887
của Bác sĩ P. Neis in trong tuyển tập
Le Tour du Monde Vol. 55, pp.
321-112, in nǎm 1888 tại Pháp.
NKTBGVT
là một tác phẩm vǎn học sử đặc biệt quan
trọng. Nó là một áng vǎn chương lần đầu
tiên trong lịch sử Việt Nam đă mô tả
bằng chứng cứ cụ thể việc h́nh thành
đường biên giới giữa Việt Nam và Trung
Hoa trong các nǎm
1885-1887. Chính tác phẩm cho
chúng ta biết v́ sao đường biên giới
Việt-Trung được vẽ như thế và nó mô tả
một cách khách quan chi tiết những sự kư
kết hiệp định và những biến cố đă xăy ra
trong gần suốt chiều dài biên giới. Nó
cũng cho thấy những chi tiết quan trọng
là những đầu mối những suy tư và t́m
hiểu mới về các vấn đề biên giới
Việt-Trung. Nó cũng chính là một bản báo
cáo đặc biệt gồm 6 bản báo cáo nhỏ liên
quan đến toàn biên giới. Tác phẩm c̣n có
thể được xem là một tường tŕnh đặc biệt
quan trọng dẫn đến sự kư kết Hiệp Định
Biên giới tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6
nǎm 1887.
NKTBGVT là một tác phẩm vǎn học sử v́ nó
chính là một áng vǎn chương trữ t́nh,
đầy kịch tính phiêu lưu và dân tộc tính
Việt Nam do một người Pháp viết. Trong
rất nhiều trường hợp Bác sĩ P. Neis đă
nói về những t́nh cảm riêng tư của ḿnh
hoặc đôi lúc xen lẫn ḷng yêu nước của
những người An Nam, Bác sĩ P. Neis c̣n
mô tả những chiều mưa trên biên giới, có
khi nắng đẹp chan ḥa, nhưng cũng có
những đêm mưa như trút thác, gịng sông
Hồng có lúc êm ái trôi, có lúc chảy xiết
như thác đỗ, ở một số nơi tác giả c̣n mô
tả cảnh sống nghèo khổ b́nh dị của các
cư dân An Nam vùng biên giới. Ông cũng
đă thể hiện một số nét nhân

bản của một vị bác sĩ khi tỏ
ra quan tâm đến sức khoẻ của
các phu khuân vác người An Nam như ông
đă viết: “Các dân quân người An Nam
đă đến từ Châu thổ cũng không hữu ích
trong lúc nhiệt độ thời tiết như thế này;
họ ǎn mặc nhẹ, chỉ có một áo khoác che
người như bộ đồ ngủ, chẳng bao lâu họ bị
sốt và sưng phổi rất nhiều và trong lúc
không có bác sĩ quân y, tôi đề nghị
Thiếu tá Servière thiết lập một trạm
quân y và cán đáng việc này trong khi
công việc của tôi là một Ủy viên của Ủy
ban Phân định Biên giới cho tôi có th́
giờ. Ngoài ra, những bệnh nhân đặc biệt
từ Lạng Sơn đến Thất Khê là các lao công
khuân vác đi từ Lạng Sơn đến Thất Khê
qua ngơ Đồng Đǎng để cung cấp tiếp tế
cho quân trú pḥng. Tôi đă chǎm sóc họ
tới hết khả nǎng tôi, trong các cǎn lều
trống tứ bề, trong đó có các kệ làm bằng
tre được dành làm giường bệnh, nhưng tôi
đă mất một số người trước cuộc tấn công
của bệnh sốt cảm lạnh chết người này.”[1]
Nhiều lần Bác sĩ P. Neis c̣n nói về
những nét đặc biệt của người Việt Nam
vùng biên giới, những thói quen và cách
sinh hoạt của họ giữa thời buổi Việt Nam
bị Pháp xâm lǎng: “Làng An Nam
Phaisam tọa lạc khoảng một cây số rưỡi
cách cổng Trung Hoa Chima; chính tại đó
chúng tôi phải thu xếp cho chúng tôi
trong các trại có hố chiến đấu Trung Hoa.
Gần với cổng làng, một người trưởng lăo
An Nam, ông huyện truởng người có ảnh
hưởng lớn trong vùng, dẫn theo khoảng
hai mươi người dân quân trang bị khá
nghèo nàn và đi sau một lá cờ của chính
quyền bảo hộ, nền vàng có chiếc du
thuyền Pháp.”[2]
Sau đó ông mô tả một vài người Man thuộc
dân tộc Việt Nam ra sao: “Khi chúng
tôi trở lại Phaisam, mưa đă ngừng và
Vi-Van-Li mang đến cho chúng tôi vài
người Man từ Mẫu Sơn đi kèm theo một
người đàn bà.
Những người thuộc bộ lạc núi này đă nhận
sự thẩm quyền của người An Nam th́ nhỏ
con và thấp - người đàn bà chỉ khoảng 1
thước 40 - lực lưỡng, các bắp chân đă
phát triển, vai rộng, mặt trông giống
khuôn mặt người Thô, nhưng với chiếc mũi
không cao và nước da nhạt hơn. Giống như
người Thô họ đă sống trong các cǎn nhà
dựng cột, nhưng luôn luôn bên trong dẫy
núi. Người ta chỉ có thể tới họ bằng
phương tiện những lối đi rất dốc: cũng
như họ không có ngựa hay trâu; họ mang
các khối nặng trên lưng trong những
chiếc giỏ tương tự như người bộ lạc núi
Đông Dương, tức là, giữ trên lưng với
hai ây đai luồn qua vai và chiếc đai thứ
ba đi qua phía trước như cái đai đầu.”[3]
Nhật Kư
Trên Biên Giới Việt-Trung (1885-1887)
Bản dịch Việt ngữ:
Sông Hồng
15 USD, miễn cước phí trong Hoa Kỳ
|